Trong trường hợp ấy, giữa khả năng để lọt tù nhân, kể cả tội nhân hiểm nguy và giết oan một người vô tội, thì tòa án Do Thái đã chọn thà để lọt tầy còn hơn giết oan
Nhưng có những lý lẽ cao nhất lại chỉ có trái tim lương thiện mới minh định được.
Người nữ giới đi rồi nhưng gã thương gia vẫn cố định kêu oan. Còn phán quyết như tòa vừa tuyên thì kiên cố có người cảm thấy bị hại, bị đối bất công (hàng loạt người xung quanh đào ao thì không sao!) đó là bà Sắc.
Anh ta tranh đấu để đòi lại những thứ đã bị tước mất một cách ám muội và vô lương. Động cơ lớn nhất thúc giục anh ta hành động chính là vì sau phán quyết của tòa án cáo buộc anh ta, sự thực vẫn thuộc về phía anh ta. Gã thương gia nghe xong bèn lao vụt theo người nữ giới khi đó đã cách một quãng xa. Nếu chỉ vì mạng sống, chắc chắn không ai đủ kiêu dũng làm như vậy. Nguy cơ có rất nhiều người bị kết án oan bởi anh ta là khôn cùng lớn.
Trái tim có thể không nên can dự vào quá trình xét xử, nhưng mọi phán quyết rốt cuộc của bất cứ phiên tòa nào, nên tham khảo tiếng nói của nó. Nhân vật trong Tiểu thuyết mang tính hồi tưởng Người tù khổ dịch Papilon là nhân vật có thật. Nhà vua bèn chỉ mặt người vừa van vỉ bảo: “Mụ ra mà bế con mụ về”, đồng thời lệnh tống người phụ nữ còn lại vào ngục vì tội bắt cóc trẻ con.
Xử án là dựa trên chứng cớ và lý lẽ. #, Càng chẳng thể thay thế các nguyên tắc pháp lý là mọi sự phải được chứng minh bằng thứ tiếng nói rõ ràng, có logic khoa học, theo đúng chính tả và không bị hiểu sai. Ở đời luôn có những tình huống pháp lý như vậy. Nhưng anh ta vẫn không bỏ cuộc. Còn nếu theo phán quyết thứ hai thì vẫn đúng về lý, lại có tình, mà cũng thuận lẽ tự nhiên: coi như viên đá (tài sản không hề lớn, khoảng 1,5 tỉ đồng như định giá của cơ quan quốc gia) là do trời cho bà Sắc.
Vị bản chất của con người, cả về mặt sinh vật học lẫn văn hóa là chỉ thần phục sự thực. Chuyện thứ hai là vụ xử kiện của “quan tòa” Xantrô Panxa, nhân vật đánh xe trong tác phẩm Donkihote của Xecvantec, khi ông được làm thống đốc một hòn đảo.
Nhưng nếu cả 100 người trong Hội đồng cùng phán kẻ nào đó có tội, thì tầy lại được tha bổng tức thời. Hắn lao vào giằng bọc tiền. Vả lại nếu không phải viên đá, mà là quả bom tấn nổ chậm còn sót lại thì mọi sự sẽ thế nào? Chuyện này cũng phải được đặt ra. Nhưng nó có giá trị như một công cụ tiếp cận sự thật.
Những kinh nghiệm đó không thể thay thế các phán xét dựa trên những bằng cớ mà lý trí tin tưởng. Có không biết bao nhiêu hiểm luôn cận kề bên anh ta. Những câu chuyện vừa kể cho thấy rõ nhất một điều, bất cứ ai, dù có là tuấn kiệt, cũng có thể mắc sai trái bởi khả năng của con người là có hạn.
Chính cái khoảng trống biểu đạt sự thiếu tự tín ấy, là chỗ để trái tim chen ngang và nói ngôn ngữ của mình. Có ba câu chuyện hệ trọng đến xử án mà tôi thuộc từ thời trẻ khi đọc sách nhưng cứ liên tiếp phải ngẫm ngợi cho đến tận hiện thời. Khi đó sức lực của con người là hết sức khủng khiếp, cả ở khả năng tự vệ cũng như gây họa cho từng lớp. Chính là lúc cần phải dựa thêm vào tình. Hội đồng xét xử gồm 100 thành viên được tuyển lựa nghiệt ngã về mặt phẩm hạnh.
Xử án là dựa trên bằng chứng và lý lẽ. Mà nhận diện sự thực thì chỉ lý lẽ không thôi là không vững chắc. Những cách ấy bao gồm cả việc trà đạp lên những sự thực khác. Nguyên đơn tố bên bị đã cưỡng dâm chị ta. Tôi không bảo phán quyết của tòa xung công hòn đá, như xung công một tài sản thuộc về sở hữu toàn dân là sai.
Một nền tư pháp nghiêm túc là phải luôn nhận ra giới hạn về khả năng phán xét của mình. Bởi thế, khi họ bị tước đoạt của cải họ có thể cam chịu, còn nếu bị tước đoạt sự thật, thì họ sẽ tìm mọi cách để lấy lại bằng được.
Chỉ riêng con số 17 lần vượt ngục, đã đủ thấy độ rủi ro của hành động cao đến mức nào. Bởi sẽ không còn khoảng trống của sự ngần ngừ trong phán quyết mà anh ta đưa ra. Chẳng thể tìm ra chứng cứ, vua Salomon bèn đưa ra phán quyết: Sẽ chặt đôi đứa bé, chia cho mỗi bà mẹ một nửa, thế là công bằng! Phán quyết vừa buông ra thì một bà mẹ vội quỳ ngay xuống, khóc lóc khấu đầu van xin nhà vua tha tội vì mình đã nói láo, bởi đứa trẻ là con của bà kia, xin nhà vua trả cho bà ta và không phải chặt đôi đứa bé nữa.
Khi một quan tòa tự tin đến mức cho mình là người hoàn hảo về trí não, thì phải ngăn cấm anh ta ngồi ghế xét xử. Trời cho ai thì người ấy được. Hai bên bèn túm nhau trở lại gặp quan tòa. Chuyện thứ ba can dự đến trí anh minh của cả một dân tộc. Nguy hiểm ở đây không chỉ cho uy tín của hệ thống Tòa án, của nền tư pháp, của pháp luật quốc gia mà cho toàn từng lớp.
Xantrô nhìn thấy người nữ giới vẫn bảo vệ được số tiền, trong khi gã thương lái thì sắp kiệt sức, bèn đập bàn quát: “Con mụ kia, trả lại tiền cho nó! ” Người đàn bà tỏ vẻ kinh ngạc không hiểu sao quan tiền giở mặt nhanh thế. Nhưng cốt lõi của vấn đề là không ai bị hại bởi phán quyết như vậy. Nhưng có những lý lẽ cao nhất lại chỉ có trái tim lương thiện mới minh định được.
Nguyên đơn là một đàn bà, bị đơn là gã thương lái. Nhưng dù đã dùng khôn xiết, gã thương nhân vẫn không cách nào đoạt lại được số tiền từ tay người đàn bà. Nhưng tôi biết chắc nếu tòa án huyện Chư-Sê phán ngược lại, trả hòn đá cho bà Trần Thị Sắc cũng không hề sai. Quơ cuốn sách là diễn biến của 17 cuộc vượt ngục kinh khủng của người tù tên là Papilon.
Bấy giờ “quan tòa” vốn là gã đánh xe ngựa mới dõng dạc đáp: “Nếu nhà ngươi cũng bảo vệ phẩm tiết như vừa bảo vệ túi tiền thì liệu hắn ta có làm gì được không? Thể nào cũng có nhân tố thông đồng” Người đàn bào bẽ trả lại tiền rồi bỏ đi trong nỗi mắc cỡ. Ai đó bị 51 người trở lên trong Hội đồng xét xử phán có tội, ngay lập tức hắn ta bị tống giam hoặc đưa đi treo cổ.
Bởi thế người sáng dạ chính là người nhận ra những giới hạn của mình.
Người Do Thái cho rằng khi ai đó bị sờ soạng chống lại, kiên cố anh ta không phải là tù tầm thường. Papilon hoàn toàn ý thức được rằng, anh ta có thể phải chết, thậm chí chết một cách đau đớn như bị bắn vỡ sọ và rơi xuống nền đá từ độ cao hàng trăm mét, bị thú rừng xé nát, bị cá mập nuốt tươi, bị làm mồi nhắm rượu cho bọn cướp biển…Có trùng trùng hiểm dựng lên trước mặt anh ta.
Xantrô bèn bảo hắn đứng dậy, ghé tai nói nhỏ: “Đuổi theo mụ ta mà lấy lại tiền”. Gã thương lái quỳ mọp xuống kêu oan, trong khi người nữ giới thì vô cùng mãn nguyện, đùm tiền vào áo, cảm ơn “quan tòa” sáng suốt như trời rồi xin được về nhà ngay.
Nghe xong, Xantrô đập bàn ra ngay phán quyết là gã thương nhân phải bồi thường cho người đàn bà 30 quan vàng, một tài sản rất lớn. Bà nào cũng khẳng định đứa trẻ là con của mình.
Biết đâu cũng là do tổ sư ông bà họ tu thân tích đức con cháu mới đào được viên đá. Mà nói như một nhà triết học Hy Lạp thì : “Khi có sức mạnh của sự thật trong tay, tôi chẳng phải sợ gì hết”. Xét cho cùng, mọi phán xét pháp lý chỉ thuyết phục khi nó bảo đảm sự thực được trọng tuyệt đối và sự thực đang ở trong tay phía đưa ra phán xét. Ví mọi quan tòa đều đọc cuốn sách ấy để thấy sự thực khó tước đoạt như thế nào, dù dựa trên bất cứ danh nghĩa gì.
Tiếng nói ấy mang theo cả thảy kinh nghiệm sống, tất thảy kinh nghiệm lịch sử về lẽ phải, tất cả kinh nghiệm về cái có lý ở đời mà không tiếng nói nào có thể mô tả hết. Phán quyết thứ nhất có thể đúng về lý nhưng vô tình. Những gì anh ta làm có thể vượt ra khỏi thời đại Vì thế nằm ngoài khả năng phán xét công bằng của người đương thời.
Chuyện thứ nhất kể vua Salomon xử kiện vụ hai bà mẹ tranh nhau một đứa bé. Đó là từ hơn 2000 năm trước người Do Thái đã có một quy định lạ đời-so với thế giới- trong việc xét xử tù nhân. Giá viên chánh tòa huyện Chư-Sê, tỉnh Gia Lai có đọc cuốn sách ấy và đọc những chuyện liên hệ đến xét xử mà tôi vừa dẫn, hẳn phiên tòa vụ “hòn đá bị nhốt” không đáng bị thành trò đàm tiếu như đang xảy ra.
Vì trong tù anh ta cũng có thể đạt được điều đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét